Các Qui luật Phát triển Hệ thống (phần 1)

Nhân đang đọc cuốn 7 trong bộ sách “Sáng tạo và Đổi mới”, mình chia sẻ và trao đổi một số điểm mình nhận thấy thú vị trong phần 14.1, những khái niệm ban đầu. Để dễ trao đổi sau này, cũng như việc thuận tiện đọc nguyên bản đối chiếu, mình qui ước ký hiệu 14.1.(2) nghĩa là nhận xét thứ 2 trong mục 14.1. – tức là, nhận xét thứ 2 trong phần 1 của chương 14.

14.0.(1) _ Cơ chế định hướng

Điểm đầu tiên, trong phân lời nói đầu, mình thấy thú vị và hấp dẫn của 9 qui luật phát triển hệ thống chính là cơ chế định hướng, cụ thể:

“Ở mức độ khái quát tương đối cao, do vậy, phạm vi áp dụng rộng, các qui luật phát triển hệ thống giúp xây dựng cơ chế định hướng trong tư duy sáng tạo, mà không có cơ chế này lại là nhược điểm cơ bản nhất của phương pháp thử và sai.”

Với nhận xét cá nhân, mình cho rằng điều này có lý, có một số phương pháp sáng tạo thì cũng khá phổ biển khi tiếp cận theo phương pháp thử và sai, bao hàm cả 40 thủ thuật cơ bản được sử dụng riêng rẻ. Với quan sát cá nhân, việc sử dụng 40 thủ thuật một cách riêng rẻ không có hệ thống và định hướng rõ ràng gây rất nhiều trở ngại, phân vân và có phần tốn công sức; vì, từng thủ thuật bản chất là được tổng kết và gợi ý để phát ý tưởng.

Trong rất nhiều năm, một trong những câu hỏi mình hay ‘được’ hỏi là: thủ thuật thì hay vậy đó, nội dung như thế đó, nhưng làm sao biết khi nào thì sử dụng thủ thuật nào một cách hợp lý và hiệu quả? (mình chưa đọc hết cuốn 7 và phần 14.4 có đề cập đến vấn đề này, khi đọc xong tới phần đó, mình sẽ trình bày tiếp; nhưng chắc hẳn vấn đề này được giải quyết phần nào, ngược lại, thì đây quả là một câu hỏi nghiên cứu thú vị, xác đáng để tìm hiểu, giải quyết).

Chẳng hạn, bất cứ khi nào bạn thấy qui luật tính đầy đủ của hệ thống bị vi phạm thì bạn có thể nghĩa ngay đến thủ thuật (5) kết hợp, (24) sử dụng trung gian, (26) sao chép, (27) rẻ thay cho đắt… Rõ ràng, với các tiếp cận này, bài toán dễ dàng được nhìn nhận ra và ‘niềm tin’ đưa ra ý tưởng, tiếp tục phát và triển khai ý tưởng để giải quyết bài toán theo đúng nghĩa của từ đổi mới hoàn toàn là cao hơn rất nhiều. Tương tự cho những qui luật khác với “độ khái quát tương đối cao, do vậy, phạm vi áp dụng rộng”, các qui luật phát triển hệ thống mang tính định hướng cao trong quá trình tiếp cận, hiểu bài toán và giải quyết vấn đề.

14.1.(1) _ Ý tưởng = Qui luật?

Điểm tiếp theo, mình thấy rất thú vị về cách hiểu của từ qui luật. Nguyên văn trong tại trang 24 như sau:

“Quá trình tìm kiếm, xác định quy luật thường bắt đầu bằng ý tưởng, mô hình, giả thuyết hoặc lý thuyết (người viết gọi chung chúng là ý tưởng) nào đó, có được nhờ suy luận của những người tìm kiếm.”

Nói một cách khác, ý tưởng chính là khởi đầu của việc xác định qui luật. Suy diễn thêm, một ý tưởng tốt chính là phần nào phản ánh qui luật. Trong thực tế, cụ thể là trong lĩnh vực kinh tế, cụm từ “cơ hội kinh doanh”, “ý tưởng kinh doanh” hay được sử dụng rất nhiều nhưng cũng gây không ít hoang mang và nghi vấn.

Làm sao có ý tưởng kinh doanh tốt? Làm sao biến một ý tưởng thành cơ hội kinh doanh? Phải chăng ý tưởng kinh doanh tốt chợt léo đến mang tính bất chợt, ngẫu nhiên? Với một cách hiểu nôm na, ngắn gọn, ‘ý tưởng tốt’ chính là qui luật sẽ giúp rất nhiều cho những người mong muốn kinh doanh, khác khao kinh doanh. Cụ thể, việc tìm một ý tưởng, cơ hội kinh doanh chính là việc phát hiện ‘qui luật’ còn thiếu nào đó và đánh giá tính hợp lý của qui luật đó.

Nói một cách khác, khi cảm thất có cái gì đó không hợp lý, hãy giải thích nó và đưa nó vào một qui luật hợp lý, đó là cách khả dĩ nhất mà một ý tưởng theo đúng nghĩa cao đẹp của nó được ra đời và được áp dụng, tồn tại trong thực tiễn.

Nguồn gốc, cấu trúc và nền tảng lý thuyết của TRIZ

Giới thiệu:

Khởi đầu, TRIZ là một khoa học được khai sinh bởi nhu cầu của sự đổi mới. Những sự cải tiến, nâng cao và phát triển TRIZ như mô tả dưới đây là kết quả của việc tích lũy kinh nghiệm của những người ứng dụng TRIZ và người dạy TRIZ. Đó là:

• Khắc phục những nhược điểm của TRIZ.

• Khám phá những lĩnh vực mới có thể áp dụng TRIZ (bao gồm cả những lĩnh vực phi kỹ thuật).

• Cải tiến và phát triển mới những công cụ của TRIZ.

• Nâng cao nền tảng lý thuyết của TRIZ và liên kết nó với những ngành khoa học khác.

Chúng ta có thể chia những đóng góp cho sự phát triển của TRIZ thành 2 phần chính:

1. Triết lý và nền tảng lý thuyết của TRIZ.
2. Những công cụ và ứng dụng của TRIZ.

Chúng ta cũng có thể chia lịch sử phát triển của TRIZ thành 2 giai đoạn:

1. TRIZ cổ điển: TRIZ được xây dựng và phát triển bởi Genrich Altshuller (từ giửa những năm 1940 đến giửa những năm 1980).

2. TRIZ hiện đại gồm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: giửa những năm 1980 đến những năm đầu thập niên 1990 tại Liên Xô cũ.
Giai đoạn 2: từ đầu thập niên 1990, khi TRIZ thâm nhập vào các nước phương tây.

Triết lý và nền tảng lý thuyết của TRIZ

Định nghĩa là tên gọi:

Tên gọi đầu tiên của TRIZ là Kỷ thuật sáng chế, ra đời trong thập niên 1950. Trong thập niên sau, nó được đổi thành Thuật toán giải bài toán sáng chế, gọi tắt là ARIZ. Sau đó, tên gọi TRIZ bắt đầu xuất hiện trong các tài liệu của Genrich Altshuller trong thập niên 1970, và được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay.

Có nhiều cách gọi khác của TRIZ như Lý thuyết phát triển của hệ thống kỹ thuật, hoặc Lý thuyết phát triển của hệ thống dành cho cho những lĩnh vực phi kỹ thuật. Dưới đây ta sẽ dùng từ TRIZ để đại diện chung cho các tên gọi khác của TRIZ.

Định nghĩa bằng sự tương đồng:

Một đối tượng mới có thể được định nghĩa bằng cách nêu lên sự tương đồng của nó với những đối tượng đã biết. Cách làm này chẳng những giúp chúng ta hiểu được đối tượng mới, mà còn có thể định hướng sự tiến hóa của đối tượng được định nghĩa. Các ngành sau có thể dùng để chỉ ra sự tương đồng với TRIZ, đó là sinh học, toán học và nghệ thuật.

1.Tương tự với ngành sinh học, cho ta thấy sự phát triển của một môn khoa học phụ thuộc vào sự phát triển của các môn khoa học khác và nhu cầu của xã hội đối với nó, hơn là vào một cá nhân nào đó.

2. Tương tự với ngành toán học, ta có thể rút ra những điều sau:

• TRIZ, giống như toán học, là môn khoa học cơ bản. Điều đó có nghĩa là nó có thể sử dụng trong bất kỳ hoạt động nào của con người có liên quan đến sự tiến hóa (như khoa học kỹ thuật, y học,..).

• TRIZ cần có những tiên đề riêng của nó.

• TRIZ có thể được dạy và học trong những cấp độ giáo dục, từ nhà trẻ đến sau đại học.

• Những phần mềm dựa trên TRIZ cần phải dễ dùng cho cả những người đã được học và chưa được học TRIZ.

3. Tương tự với ngành nghệ thuật, cho thấy TRIZ không cạnh tranh với khả năng sáng tạo bẩm sinh của một người. Một người càng có nhiều khả năng sáng tạo bẩm sinh, thì TRIZ sẽ càng ích lợi với người đó. Có thể viết công thức cho sự thành công của một người học TRIZ theo công thức sau:

R = Pc x Pkn x (1+M) x (1+T)

Trong đó:

R = Kết quả
Pc = khả năng sáng tạo, bao gồm khả năng sáng tạo bẩm sinh, suy nghĩ mở, và ưa thích khám phá,..
Pkn = Kiến thức chuyên môn (của một lĩnh vực khác ngoài TRIZ)
M = Lý thuyết TRIZ
T = Công cụ TRIZ

Như là trong nghệ thuật, những phương pháp và công cụ khác nhau sẽ giúp một cá nhân đạt đến những giới hạn cao hơn. TRIZ giúp một người bình thường có thể giải quyết những vấn đề chỉ dành cho người có tài năng đặc biệt. Và người có tài năng đặc biệt nhờ TRIZ, có thể giải quyết những vấn đề ở mức độ khó cao hơn.

Lược dịch từ
Ideationtriz

Kỳ sau: Vị trí của TRIZ trong khoa học sáng tạo.

Sơ lược về TRIZ

TRIZ là viết tắt của cụm từ “Lý thuyết giải các bài toán sáng chế” theo tiếng Nga (Teoriya Resheniya Izobreatatelskikh Zadatch), là phương pháp luận tìm kiếm những giải pháp kỹ thuật mới, cho những kết quả khả quan, ổn định khi giải những bài toán khác nhau, thích hợp cho việc dạy và học với đông đảo quần chúng. Tác giả của TRIZ, Genrich Saulovich Altshuller, bắt đầu nghiên cứu, xây dựng lý thuyết từ năm 1946.

Tiền đề cơ bản của TRIZ là: các hệ kỹ thuật phát triển tuân theo các quy luật khách quan, nhận thức được. Chúng được phát hiện và sử dụng để giải một cách có ý thức những bài toán sáng chế. TRIZ được xây dựng như là một khoa học chính xác, có lĩnh vực nghiên cứu riêng, các phương pháp riêng, ngôn ngữ riêng, các công cụ riêng. Hạt nhân của TRIZ là thuật toán giải các bài toán sáng chế (viết tắt theo tiếng Nga là ARIZ).

ARIZ là một chương trình các hành động tư duy có định hướng, được kế hoạch hóa. Nó có mục đích tổ chức hợp lý và làm tích cực hóa tư duy sáng tạo, bước đầu tạo cơ sở cho lý thuyết chung về tư duy định hướng. ARIZ có tính logic và linh động. Về mặt logic, ARIZ có tác dụng phân nhỏ bài toán sáng chế thành từng phần, vừa sức với người giải bình thường. Về mặt linh động, nó khai thác tới mức lớn nhất mặt mạnh của từng người giải như kiến thức, kinh nghiệm, trí tưởng tượng, linh tính… và hạn chế mặt yếu như tính ỳ tâm lý, sự phân tán trong suy nghĩ. Lợi ích của ARIZ nói chung là nâng cao hiệu suất tư duy sáng tạo giải quyết vấn đề và ra quyết định.

Ý nghĩa của TRIZ và ARIZ là ở chỗ xây dựng tư duy định hướng nhằm đi đến lời giải bằng con đương ngắn nhất dựa trên các quy luật phát triển các hệ kỹ thuật và sử dụng chương trình tuần tự các bước, có kết hợp một cách hợp lý 4 yếu tố: tâm lý, logic, kiến thức và trí tưởng tượng. TRIZ được dùng kết hợp với những phương pháp kinh tế-tổ chức (như phương pháp phân tích giá thành-chức năng, gọi tắt là FSA) tạo nên công cụ tổng hợp và có hiệu lực mạnh mẽ tác động tốt đến sự phát triển công nghệ.

Tác giả TRIZ:

G.S. Altshuller

Genrich Saulovich Altshuller (1926-1998) là người khai sinh ra TRIZ, là một trong những nhà khoa học kiệt xuất của thế kỷ 20. Ông sinh tại Tashkent (Uzbekistan) và năm 14 tuổi đã có vài bằng chứng nhận tác giả sáng chế. Tốt nghiệp đại học công nghiệp. Ông giảng dạy ở Đại học Baku nhiều năm, là tác giả của hàng chục cuốn sách và khoảng 400 bài luận về TRIZ. Ông là tác giả của hàng trăm phát minh, sáng chế xuất sắc. Ngoài ra Altshuller còn viết khoảng 5 cuốn sách về khoa học viễn tưởng.

Những năm thập niên 1980, hàng trăm thành phố ở Liên Xô đã mở trường, trung tâm, câu lạc bộ dạy về tư duy sáng tạo. Cuối những năm 1980, Altshuller chuyển qua nghiên cứu về một lý thuyết có thể xây dựng “con người sáng tạo”. Theo ông, có những phương pháp nhất định, giúp con người có thể học rất tự nhiên, không hề gò bó, nhưng có thể mang lại khả năng nhạy bén và sáng tạo hơn hẳn. Phương pháp luận này được gọi là TRIZ hiện đại, được các nước phát triển như Mỹ, Đức, Nhật… đánh giá rất cao.

Tại Tp.HCM, TRIZ được giảng dạy tại Trung Tâm Sáng Tạo Khoa Học – Kỹ Thuật (Ðại học khoa học tự nhiên – Ðại học quốc gia TPHCM).

Tham khảo từ:

http://vi.wikipedia.org/wiki/TRIZ
http://en.wikipedia.org/wiki/Triz

http://vi.wikipedia.org/wiki/G.S._Altshuller
http://www.hcmuns.edu.vn/CSTC/

TRIZVietnam.com ra mắt phiên bản mới!

Chào các bạn học viên Phương pháp luận sáng tạo (PPLST). Website bạn đang xem là phiên bản mới của TRIZVietnam.com, chính thức đưa lên từ 15/06/2009.

Sau thời gian hoạt động từ năm 2000, TRIZVietnam.com đã trải qua nhiều phiên bản, nhiều người quản lý, nhưng mục đích vẫn không thay đổi. Đó là tạo sân chơi để các học viên PPLST trao dồi, rèn luyện kiến thức về TRIZ, và PPLST sáng tạo nói chung.

Nếu bạn là người chưa hề học và nghe nói về TRIZ và PPLST, thì website này có thể cung cấp cho bạn một số khái niệm cơ bản.

Một phiên bản cũ của TRIZVietnam.com
Một phiên bản cũ của TRIZVietnam.com

Bạn có thể xem lại một số bài viết trong các phiên bản cũ bằng cách lick vào “Phiên bản cũ“, hoặc các thảo luận cũ

Tham gia quản lý website hiện nay có các thành viên sau:

Lê Hùng – webmaster
Nguyễn T Lam
A. Long
Nguyễn T  Thành

Ngoài ra, tất cả các bạn đều có thể đăng ký thành viên và gửi bài, cũng như gửi ý kiến phản hồi dưới mỗi bài viết.

Nếu các bạn có ý kiến đóng góp hoặc đề nghị, hãy gửi email đến webmaster@Trizvietnam.com .

Mong nhận được sự tham gia và đóng góp của các bạn.